Tuesday, 05/07/2022 - 19:15|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Trung học cơ sở Khe Sanh. Địa chỉ: 06, Chu Văn An, Thị trấn Khe Sanh, Huyện Hướng Hóa, Tỉnh Quảng Trị. Điện thoại: 02333880435.

Cộng tác viên thanh tra giáo dục

I. Khái niệm Cộng tác viên thanh tra giáo dục

1. Cộng tác viên thanh tra giáo dục thường xuyên là công chức, viên chức trong ngành giáo dục, không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra, có đủ tiêu chuẩn theo quy định, được cơ quan có thẩm quyền cấp thẻ cộng tác viên thanh tra giáo dục, trưng tập làm nhiệm vụ thanh tra.

2. Cộng tác viên thanh tra giáo dục theo vụ việc là công chức, viên chức trong và ngoài ngành giáo dục, không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra giáo dục, được trưng tập tham gia đoàn thanh tra theo vụ việc.”

II. Nhiệm vụ và quyền hạn của cộng tác viên thanh tra giáo dục thường xuyên

1. Thường xuyên rèn luyện, tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác thanh tra.

2. Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và cơ sở giáo dục nơi cộng tác viên thanh tra giáo dục đang công tác theo dõi về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo phân công của thủ trưởng đơn vị.

3. Chấp hành quyết định trưng tập làm nhiệm vụ thanh tra; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi tham gia Đoàn thanh tra theo quy định tại Điều 6 Thông tư này. Phát hiện và báo cáo kịp thời với cơ quan thanh tra về những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục tại địa phương, cơ sở

4. Được tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra, được đảm bảo các điều kiện, phương tiện làm việc, các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật và quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị quản lý cộng tác viên thanh tra.

III. Nhiệm vụ, quyền hạn của cộng tác viên thanh tra giáo dục khi tham gia đoàn thanh tra

1. Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn thanh tra.

2. Thực hiện đúng quy định về công tác thanh tra và quy định của pháp luật.

3. Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu cơ quan tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó.

4. Kiến nghị Trưởng đoàn thanh tra áp dụng biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được giao. Kiến nghị việc xử lý về vấn đề khác liên quan đến nội dung thanh tra.

5. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, chịu trách nhiệm trước Trưởng đoàn và trước pháp luật về tính chính xác trung thực, khách quan của nội dung báo cáo.

IV. Chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cộng tác viên thanh tra giáo dục

Cộng tác viên thanh tra giáo dục sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục hiện đang công tác, được hưởng chế độ, chính sách đãi ngộ khi tham gia Đoàn thanh tra (không bao gồm thanh tra các kỳ thi) như sau:

1. Đối với cộng tác viên thanh tra giáo dục là giáo viên mầm non, giáo viên phổ thông: thời gian làm việc một buổi được thanh toán số tiền bằng 3 tiết (hoặc giờ dạy) định mức.

2. Đối với cộng tác viên thanh tra giáo dục là giáo viên, giảng viên ở các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp: thời gian làm việc một buổi được thanh toán số tiền bằng 1,5 giờ chuẩn giảng dạy.

3. Đối với cộng tác viên thanh tra giáo dục không phải là giáo viên, giảng viên: thời gian làm việc một buổi được thanh toán số tiền bằng 6 giờ định mức.”

V. Trách nhiệm của phòng giáo dục và đào tạo, cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục quản lý cộng tác viên thanh tra

1. Phòng giáo dục và đào tạo có trách nhiệm tổng hợp hồ sơ công chức, viên chức của phòng giáo dục và đào tạo, cơ sở giáo dục thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện để đề xuất cấp có thẩm quyền tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, ra quyết định công nhận, cấp thẻ cộng tác viên thanh tra giáo dục, trưng tập tham gia đoàn thanh tra.

2. Cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục quản lý cộng tác viên thanh tra có trách nhiệm:

a) Cử công chức, viên chức tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục. Lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền ra quyết định công nhận và cấp thẻ cộng tác viên thanh tra giáo dục;

b) Bố trí sắp xếp thời gian, công việc hợp lý để công chức, viên chức, được trưng tập tham gia các đoàn thanh tra;

c) Sử dụng ý kiến nhận xét của cơ quan trưng tập cộng tác viên thanh tra giáo dục trong việc đánh giá, bình xét thi đua và thực hiện chế độ chính sách khác đối với công chức, viên chức.

VI. Một số kỹ năng khi tham gia hoạt động thanh tra giáo dục

1. Lập kế hoạch tiến hành thanh tra

Xây dựng kế hoạch của mỗi thành viên theo nhiệm vụ được phân công và báo cáo trưởng đoàn thanh tra.

2. Kỹ năng thu thập tài liệu, chứng cứ

Thu thập, tài liệu chứng cứ là khâu có tính quyết định để làm rõ nội dung cuộc thanh tra hành chính, góp phần nâng cao chất lượng cuộc thanh tra, đảm bảo cho kết luận thanh tra được toàn diện, đầy đủ, đúng đắn, khách quan.

2.1. Xác định nguồn tài liệu, chứng cứ cần thu thập

Đầu tiên, phải xác định được tài liệu, chứng cứ nào cần thu thập, phục vụ được cho Kết luận thanh tra, để làm tốt việc thu thập tài liệu, chứng cứ cần bám sát 03 vấn đề sau:

Một là: Mục đích, yêu cầu và nội dung của cuộc thanh tra: Xác định đúng thẩm quyền, phạm vi và nội dung thanh tra. Khi nghiên cứu nội dung cuộc thanh tra phải xác định được phạm vi của nội dung, xác định rõ đối tượng, thẩm quyền đối với cuộc thanh tra sẽ tiến hành để tránh vi phạm trong hoạt động thanh tra.

Hai là: chuẩn bị kỹ về văn bản pháp luật, Quy định, Quy chế của Ngành.
Do chức năng của thanh tra, không thực hiện hướng dẫn đối tượng thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ như đối với chức năng của kiểm tra; mà chỉ căn cứ vào văn bản pháp luật, quy định của Ngành để nhận xét, đánh giá kết quả công tác của đối tượng thanh tra; cho nên phải chuẩn bị đầy đủ, nghiên cứu kỹ nội dung quy định của pháp luật và của Ngành về nội dung sẽ được thanh tra để có định hướng tốt trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ.

Ví dụ khi thanh tra về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hoặc công tác quản lý tài chính, tài sản công thì ngoài việc tự sưu tầm văn bản, có thể phối hợp với bộ phận kế hoạch, tài chính để có thể nắm rõ thêm các văn bản chỉ đạo trong Ngành về lĩnh vực cần thanh tra.

Ba là: Dự kiến kế hoạch thu thập tài liệu, chứng cứ

Việc thu thập tài liệu chứng cứ để phục vụ Kết luận thanh tra cũng cần được dự kiến trước nhằm nâng cao tính chủ động, tính tập trung trong hoạt động thanh tra, đảm bảo thời gian tiến hành thanh tra đúng tiến độ.

- Nhóm văn bản chỉ đạo, điều hành: Ví dụ các quy chế, quy định do đối tượng thanh tra xây dựng; các biên bản hội họp của tập thể lãnh đạo, Ban cán sự đảng, cơ quan được thanh tra chứa đựng việc triển khai công tác, những báo cáo của cấp dưới, những chỉ đạo, kết luận của người đứng đầu.

- Nhóm tài liệu thể hiện hoạt động thực hiện nhiệm vụ của đối tượng thanh tra: Đây là nhóm chủ yếu nhất, trực tiếp nhất để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của đối tượng thanh tra và việc thu thập các tài liệu này phải hướng tới việc đạt được mục đích của cuộc thanh tra cụ thể.

- Nhóm tài liệu do thanh tra sẽ tiến hành xác minh, kiểm tra thực tế. Đó là các biên bản làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân biết hoặc lưu giữ thông tin liên quan đến nội dung thanh tra. Đoàn thanh tra cũng có thể tiến hành kiểm chứng thực tế. Để có thể dự liệu các tài liệu, chứng cứ cần thu thập đòi hỏi Đoàn thanh tra có hiểu biết nhất định về hoạt động công tác của đối tượng. Cần tập trung vào nhóm tài liệu trực tiếp với nội dung thanh tra trước, sau đó mới thu thập các tài liệu bổ sung.

Chất lượng cuộc thanh tra phụ thuộc nhiều vào bản lĩnh, kỹ năng của người tiến hành thanh tra vì vậy, công chức thanh tra phải luôn tu dưỡng, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, bản lĩnh nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

2.2. Yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ

- Trưởng đoàn, thành viên Đoàn thanh tra được sử dụng nhiều quyền hạn theo quy định của pháp luật về thanh tra, Quy chế công tác thanh tra để có tài liệu, chứng cứ. Cụ thể là:

+ Yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo, giải trình về những vấn đề liên quan; giải trình làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm về những thiếu sót, vi phạm. Trong trường hợp giải trình của đơn vị, cá nhân chưa rõ, cần tiến hành tổ chức đối thoại, chất vấn để làm rõ. Khi tổ chức đối thoại, chất vấn phải lập biên bản, ghi đầy đủ, chính xác những sự việc các bên đã trao đổi.

+ Yêu cầu cung cấp tài liệu. Bên cạnh báo cáo theo đề cương của Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra cần cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra và nội dung báo cáo.

+ Làm việc với cơ quan, đơn vị, cá nhân nắm giữ thông tin, tài liệu để thu thập hoặc xác nhận thông tin đó.

- Giao nhận tài liệu: Chứng cứ dưới dạng tài liệu có thể được thu thập bản gốc hoặc bản sao. Nếu thu thập bản sao tài liệu thì cần đối chiếu nội dung với bản gốc; bản sao cần có chữ ký của người cung cấp, người thu thập, ngày giao nhận hoặc có biên bản giao nhận kèm theo.  

- Xác nhận nội dung tài liệu:

+ Trong trường hợp tài liệu chứa đựng nhiều nội dung thông tin nhưng không cần, hoặc không thể thu giữ tất cả tài liệu đó thì có thể trích sao phần nội dung chứa đựng thông tin làm chứng cứ và có biên bản xác nhận của người cung cấp và người thu nhận thông tin. Ví dụ: trong một Biên bản Hội nghị cán bộ, công chức, chỉ cần thu thập đoạn nội dung về công khai tài chính thì có thể trích sao phần đầu biên bản, nội dung cần thu thập.

+ Trong trường hợp tài liệu bị mất trang, mất chữ, quá cũ nát, quá mờ không đọc được chính xác nội dung thì người tiếp nhận tài liệu phải ghi rõ tình trạng của tài liệu đó có xác nhận của người cung cấp trong giấy biên nhận.

+ Một số thông tin, nhận xét, đánh giá của người đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với đối tượng thanh tra cung cấp cho Đoàn thanh tra thì cần ghi nhận thành văn bản, có chữ ký hai bên.

3. Kỹ năng khai thác nội dung tài liệu, chứng cứ

- Chứng cứ trong hoạt động thanh tra là những gì có thật được thu thập trong quá trình thanh tra, dùng làm căn cứ để kết luận vụ việc một cách khách quan và đúng quy định của pháp luật. Chứng cứ trong hoạt động thanh tra phải có tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Tính khách quan của chứng cứ bị lệ thuộc rất nhiều vào nhân tố chủ quan của người thu thập chứng cứ (thành viên Đoàn thanh tra), vì vậy đòi hỏi thành viên Đoàn thanh tra phải có tính trung thực, không thiên lệch, nhận thức sự thật, lẽ phải, có ý thức trách nhiệm nghề nghiệp, danh dự và trí tuệ. Tính liên quan trong chứng cứ không tồn tại như sự việc đơn độc mà thường là hệ thống, nên không thể chỉ căn cứ vào một vài biểu hiện rời rạc mà cần xem xét hệ thống những sự việc xen kẽ nhau, liên quan chặt chẽ với nhau. Tính hợp pháp thể hiện chứng cứ được thu thập đảm bảo đúng thẩm quyền, đúng thời gian thanh tra, trong phạm vi nội dung và thời điểm thanh tra.

- Phương pháp khai thác tài liệu, chứng cứ thuộc về kỹ năng, kinh nghiệm của mỗi công chức thanh tra. Trong một hệ thống các tài liệu, chứng cứ thì đọc tài liệu nào trước, tài liệu nào sau. Khái quát lại có thể sử dụng các phương pháp sau:

+ Đi từ tổng hợp đến chi tiết, từ cái chung đến cái riêng. Ví dụ thanh tra việc thực hiện kinh phí thì đọc Báo cáo của đối tượng thanh tra trước, từ đó tìm ra mâu thuẫn, nội dung chưa rõ; sau đó đọc sổ sách kế toán, rồi đến các khoản mục chỉ, các các chứng từ chi. Phương pháp này nhanh, dễ làm nhưng dễ bỏ sót chi tiết; chỉ nên áp dụng đối với những việc có tính vĩ mô.

+ Đi từ chi tiết đến tổng hợp. Phương pháp này ngược lại với phương pháp trên, kiểm tra được đầy đủ hơn, chi tiết hơn nhưng mất nhiều thời gian và khó làm.

+ Đi thẳng vào vấn đề cụ thể, cần giải quyết. Phương pháp này tránh được tản mạn, nhanh nhưng muốn vậy, phải nắm bắt được vấn đề từ trước. Có thể thông qua dư luận phản ánh, thông qua các dấu hiệu vi phạm nên thường áp dụng trong thanh tra đột xuất, thẩm tra, xác minh trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, còn trong thanh tra kế hoạch thì thường kết hợp hai phương pháp trên.

4. Kỹ năng đánh giá chứng cứ

- Đánh giá chứng cứ là xem xét giá trị chứng minh của chứng cứ về vấn đề cần thanh tra nhằm đưa ra nhận xét, kết luận, kiến nghị một cách đúng đắn, khách quan và đúng pháp luật.  Tài liệu làm chứng cứ phải đảm bảo tính khách quan, liên quan và hợp pháp. Cần thu thập đầy đủ nhất có thể để việc đánh giá không bị phiến diện; đánh giá cả những mặt ưu điểm, mặt khuyết điểm, vi phạm. Khi có sự mẫu thuẫn giữa các chứng cứ thì tìm chứng cứ khác bổ sung, làm rõ, không được sử dụng những chứng cứ chưa rõ, chưa được kiểm tra để kết luận.

- Khi đánh giá chứng cứ, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của đối tượng thanh tra phải lấy căn cứ pháp luật và các văn bản quản lý, chỉ đạo, điều hành làm tiêu chuẩn; tuyệt đối không đánh giá theo góc độ chủ quan.

- Thực tiễn vô cùng phong phú, có những hoạt động chưa được điều chỉnh dưới góc độ văn bản quản lý thì cần tập hợp, nghiên cứu để tham mưu với Lãnh đạo Sở để xem xét, quyết định điều chỉnh trong phạm vi thẩm quyền.

5. Kỹ năng xây dựng biên bản, báo cáo

- Lập biên bản làm việc: kết quả làm việc liên quan đến nội dung thanh tra.

- Dự thảo văn bản kiến nghị xử lý hoặc xử lý theo thẩm quyền những sai phạm được phát hiện.

- Báo cáo bằng văn bản với trưởng đoàn về tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

 

 

Tác giả: BAN GIÁM HIỆU
Nguồn:Thanh tra Sở Copy link
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 18
Hôm qua : 17
Tháng 07 : 88
Năm 2022 : 10.330